Một trong những nữ tướng tài giỏi, kiên trung dưới thời Hai Bà Trưng quê Thái Bình (ngoài Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục), nữ tướng Cẩm Hoa nổi tiếng với câu nói: “Ta sinh vì việc nước, nay chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy”.
Dân gian còn ghi nhận công lao của bà trong gia phả họ Đinh ở
Bình Lăng (Hưng Hà) có chép: “khi Lê Lợi sai tướng quân Đinh Liệt và Lê Sát
cùng đạo quân Thiết Đột đi chặn đánh 15 vạn quân nhà Minh xâm lược do Liễu
Thăng và Mộc Thạch tràn sang.
Trước khi vào trận, Đinh Liệt về Đông Đô (Hưng Hà) bái yết
ngoại tổ có ghé qua đền thờ nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Rèm (xã Thăng Long, Đông
Hưng nay) cầu nguyện, bà linh ứng phù Đinh Liệt thắng giặc”, thật đúng như lời
bà nói “chết như sống”.
Đền thờ bà còn câu đối:
“Nghĩa khí phò Trưng
Vương diệt vong Bắc quốc
Hiển linh giúp Đinh tướng
khôi phục Nam bang”.
Tương truyền, nữ tướng Cẩm Hoa, tên thật là Nguyễn Thị Cẩm
Hoa, sinh năm Canh Thân (năm thứ 10 sau Công nguyên), cha là Nguyễn Hậu làm
quan Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay), mẹ là Trần Thị Đức. Ông Nguyễn Hậu quê ở
làng Thượng Phán, xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, bà Trần Thị Đức quê ở làng Lộ
Xá, xã Thăng Long, huyện Đông Hưng.
Hai ông bà lấy nhau nhiều năm mới sinh hạ được một người con
gái đặt tên là Cẩm Hoa, ý mong mỏi đứa con gái yêu quý của ông bà sau này lớn
lên xinh đẹp như hoa gấm.
Cẩm Hoa lớn lên trong vòng tay yêu thương vô hạn của ông bà
Nguyễn Hậu, càng lớn Cẩm Hoa càng xinh đẹp, nết na. Nhưng, quân Đông Hán tràn
sang đô hộ, giày xéo nước ta gây bao cảnh lầm than khổ cực, chính sách đồng hóa
của giặc Hán tàn bạo.
Tuy làm quan Châu Ái nhưng ông Nguyễn Hậu không chịu khuất
phục quân Đông Hán, tính khí cương cường, thương dân, yêu nước nên bị Thái thú
Tô Định giết hại lại còn sai quân đi tìm bắt hai mẹ con bà Cẩm Hoa về làm nô tỳ.
Cẩm Hoa cùng mẹ phải chạy về quê ngoại Lộ Xá.
Là phận nữ nhi nhưng Cẩm Hoa được thừa hưởng chí khí của người
cha vốn yêu nước, thương nòi, không chịu khuất phục quân giặc lại có tình yêu
quê hương, đất nước cháy bỏng.
Chứng kiến cảnh giặc Đông Hán áp bức dân lành, hãm hiếp phụ
nữ nhằm thực hiện chính sách đồng hóa, sẵn lòng căm thù giặc Cẩm Hoa ngày đêm
luyện rèn võ thuật, quyết tâm đền nợ nước, trả thù nhà.
Nghe tin Nhị chúa Mê Linh Trưng Trắc, Trưng Nhị dựng cờ khởi
nghĩa ở Hát Môn, Cẩm Hoa chiêu mộ anh hào trong vùng rồi cùng 30 gia thân lên
Phong Châu yết kiến hai bà.
Ngắm nhìn gương mặt đẹp như trăng rằm, thân thể tỏa ra mùi
hương thơm lạ Hai Bà Trưng có phần ái ngại nhưng khi thử tài ứng đối và võ thuật,
Hai Bà thật sự ngỡ ngàng trước tài ứng đối và thao lược binh quyền của Cẩm Hoa.
Hỏi ra mới biết, Cẩm Hoa là con gái duy nhất của một vị quan
vùng Châu Ái vì thương nước, thương nòi chống lại giặc Đông Hán mà bị hãm hại,
cùng chung mối thù Tô Định nên Hai Bà nhận Cẩm Hoa xung quân.
Tương truyền, trước khi hội về Phong Châu, Cẩm Hoa đã về quê
cha ở làng Thượng Phán bái yết tổ tông. Bà để lại nơi đây một mũi tên đồng với
lời thề đền nợ nước, trả thù nhà.
Bà trở lại quê mẹ ở Lộ Xá trút bỏ trâm thoa, tạm biệt dân
làng rồi cùng các gia thân, anh tài, hào kiệt trong vùng phất cờ đào lên đường
giết giặc. Để tưởng nhớ ngày bà xuất quân theo Nhị vua Hai Bà Trưng dựng cờ khởi
nghĩa, dân trang Lộ Xá viết đôi câu đối tặng bà trước lúc đi xa:
Quỳnh Côi di chỉ tiêu dư hậu
Lộ Xá đầu thoa nhân cố lư
Nghĩa là:
Dấu tích Quỳnh Côi lưu hậu thế
Quăng thoa Lộ Xá nhớ muôn đời
(“Thoa” là loại vòng trang sức bằng vàng hoặc bằng bạc dùng
đeo tai, đeo cổ làm đẹp của phụ nữ Việt cổ)
Bà nhận đôi câu đối mà dân trang Lộ Xá dâng tặng, đọc rồi mỉm
cười cảm tạ các vị bô lão cùng các dân trang đã dành tặng tình cảm chứa chan và
gửi gắm niềm hy vọng ở nơi bà.
Bà cưỡi hồng mã, lặng nhìn dân trang lần cuối, ánh mắt rực
cháy lòng căm hận quân thù. Đội quân do bà chỉ huy phất cờ hành quân hướng về đất
Phong Châu.
Gia nhập đội quân của Hai Bà Trưng, Cẩm Hoa được phong nữ tướng
đảm trách đánh thành Mai Lĩnh. Chỉ huy đội quân được tôi luyện, bà nhanh chóng
hạ thành Mai Lĩnh góp phần cùng các cánh quân trong đội quân hùng hậu của Hai
Bà dẹp tan quân giặc, giải phóng hoàn toàn 65 quận, thành thu lại đất Lĩnh Nam,
giặc Đông Hán bại trận chạy toán loạn về nước.
Bị thua đau, quân Đông Hán không nguôi mộng bá vương quyết
tâm quay lại cai trị đất Lĩnh Nam. Vào năm 42 (sau Công nguyên), Hán Quang Vũ
(tức Hán Quang Vũ Đế) tên thật là Lưu Tú là vị vua sáng lập nhà Đông Hán đồng
thời là vị Hoàng Đế thứ 16 của nhà Hán sai Mã Viện quay trở lại đánh chiếm Lĩnh
Nam.
Trước thế giặc mạnh, Hai Bà Trưng hạ lệnh cho Cẩm Hoa bên cạnh
Hai Bà chiến đấu bảo vệ thành Cấm Khê. Thành Cấm Khê thất thủ, Hai Bà Trưng
cùng đội quân của Cẩm Hoa rút chạy đến bến sông Hát. Tại đây, Hai Bà Trưng đã
tuẫn tiết.
Còn bà Cẩm Hoa cũng bị thương nhưng cố gắng cùng vệ binh vừa
đánh giặc vừa tìm cách rút về Lộ Xá. Khi về đến Lộ Giang (khúc sông ở cạnh Lộ
Xá, nay thuộc xã Thăng Long, huyện Đông Hưng) thì cùng đường. Quân Đông Hán vẫn
đuổi riết sau lưng.
Trước tình thế giặc Đông Hán truy sát, để giữ khí tiết và
cũng để giữ cho dân trang Lộ Xá thoát khỏi cảnh tàn sát của quân giặc, nữ tướng
Cẩm Hoa đã chọn cách tuẫn tiết. Trước khi chết, bà ngửa mặt lên trời mà than rằng:
“Ta sinh vì việc nước, nay chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” rồi bà trẫm
mình xuống dòng sông.
Ghi nhớ công lao của bà, dân trang Lộ Xá đã dựng đền thờ bà ở
làng Rèm , gọi là đền Rèm (nay thuộc thôn An Liêm, xã Thăng Long) rồi hương
khói thờ phụng bà cho đến ngày hôm nay.
Trong đền có hai vế đối ghi nhớ công lao của bà:
“Trừ Tô Định chi tham tàn Mai Lĩnh ngoại kỷ hoàn gia vũ trụ
Vị Trưng vương nhị xướng Hát Giang môn công ký nữ anh hùng”
Tạm dịch là:
“Giết Tô Định tham tàn trận đánh thành Mai Lĩnh công lao to
lớn như vũ trụ bao la
Cùng Trưng vương xướng nghĩa Hát Giang Môn liệt nữ anh hùng
được lưu truyền hậu thế” .
Sưu tầm: Ths Nguyễn Thy Ngà