Đình Ngọc Động xã Hoàng Đông huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam nguyên thờ Trấn Quốc Đại Vương thời Hùng Vương thứ 6. Ngài văn võ toàn tài, có công phá giặc hộ quốc bảo dân được thờ làm phúc thần muôn đời ngưỡng mộ
Vốn xưa vào thời Hùng Vương thứ 6 là Huy Vương. Tại Nghệ An
có ông Phạm Hiên và vợ là Hoàng Thị Việt gia cảnh xung túc chăm làm việc thiện
xong hiếm muộn đường con cái, vợ chồng ông không nản càng ra tâm làm phúc để cầu
nguyện sớm có người nối dõi.
Trời chẳng phụ lòng người, không lâu sau bà Hoàng Thị có
mang. Trải qua 12 tháng đến ngày mồng 10 tháng 8 năm Đinh Sửu sinh hạ một trai
khôi ngô tuấn tú, ông bà quý lắm đặt tên là Phạm Phúc. Phạm Phúc lớn lên học một
biết mười, tài năng hơn người, trí tuệ siêu phàm, văn võ toàn tài, thông minh
xuất chúng, mọi người đều cho là thần đồng giáng thế. Năm Phạm Phúc 18 tuổi thì
cha mẹ đều qua đời. Phạm Phúc vô cùng thương xót tìm đất an táng cư tang nghiêm
cẩn.
Bấy giờ Phạm Phúc có người cậu ruột tên là Hoàng Độ, là Lạc
Hầu cai quản quận Huyện Vũ đóng ở kinh, bèn tìm đến lương tựa. Khi ấy Cao Miên
đem 20 vạn quân vào xâm phạm bờ cõi, Hùng Huy Vương cất Hoàng Độ làm nguyên
soái, đốc 10 vạn quân đi đánh giặc Cao Miên. Hoàng Độ tiến cử cháu ruột là Phạm
Phúc làm tiên phong cùng đi đánh giặc.
Hai ông tiến quân vào đạo Sơn Nam, đánh lớn 1 trận, Phạm
Phúc tả xung hữu đột giữa chốn ba quân như vào chỗ không có người, quân địch
thua to tháo chạy về nước. Hai ông dâng biểu tâu công thắng trận . Hùng Huy Vương xuống chiếu vời về triều,
phong Hoàng Độ làm Sơn Nam bộ chúa. Phạm Phúc làm trưởng quản ở Duy Tân.
Ông thấy đất Động Linh núi sông uốn khúc, rồng châu hổ ấp,
hoàng xà uốn khúc, chiêng trống tượng hình, bưng dựng một hành dinh để nghỉ
ngơi và nắm giữ quân quyền. Tại đây ông nghĩ việc khuyến khích nông trang, mở
nghề thủ công buôn bán.
Ông lại tâu xin Vua miễn các sai dịch cho dân, cấp thêm vàng
mua ao ruộng làm công dụng hương hoả cho làng. Qua vài tháng, Hoàng Công lâm bệnh
qua đời, ông dâng biểu tấu về triều đình Hùng Huy Vương phong Hoàng Độ là Bảo
Quốc Đại Vương, triệu ông Phạm Phúc về trấn thủ đạo Sơn Nam.
Mới qua vài năm, ở phương bắc có giặc Ân do Tương Thạch Linh
cất quân sang xâm lược nước ta, thanh thế
rất lớn. Hùng Huy Vương sai sứ thần
triệu Phạm Phúc về triều.
Ông vâng lệnh chọn 25 người ở trang Động Linh làm tâm phúc rồi
tiến quân đánh giặc, hơn 20 trận không
phân thắng bại. Hùng Huy Vương bèn lập đàn tế các trời đất, được Long
Quân hiện hình, chỉ cách tìm người tài giữ nước.
Hùng Huy Vương sai sứ giả đi tìm, đến làng Phù Đổng quận Vũ
Ninh thì tìm được Thiên Vương. Thiên Vương hét lên một tiếng cao lớn dị thường
cưỡi ngựa sắt phi như bay tới Châu Sơn đánh lớn một trận, chém chết tướng Thạch
Linh. Đang đánh giặc búa sắt bị gãy, Thiên Vương đành nhổ tre để đánh giặc tiếp,
giặc thua chạy tan tác.
Khi ngựa sắt về tới núi Ninh Sóc thì Thiên Vương bỏ áo giáp
cưỡi ngựa bay lên trời. Tàn quân của giặc còn lại bị ông Phạm Phúc đuổi giết ra
tận bờ biển mới thu quân về. Khi về đến Đắng Châu thì ông Phạm Phúc cũng hoá
luôn, bấy giờ là ngày mồng 10 tháng 11. Hùng Huy Vương tôn phong Thiên Vương là
Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ phụng. Lại phong cho ông Phạm Phúc là Trấn
Quốc Đại Vương, cho nhân dân bốn khu trang Động Linh lập miếu trên nơi hành
dinh năm xưa thờ tự
Đến thời Lý, vua Lê Thái Tổ đi đánh chiếm Thành, thuyền qua
Đắng Châu, gặp phải mưa to gió lớn không đi được. Đêm ấy, Trấn Quốc Đại Vương
hiển linh xin đi theo đánh giặc. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh, thuyền vua
thẳng đến đất Chiêm Thành, đánh được một trận lớn thu được toàn thắng. Thái Tổ
nghĩ đến ơn thần bèn lập chùa bên Hồ Tây bốn mùa cúng tế.
Trải qua các triều đều có sắc phong ghi vào tự điển 4 mùa tế
lễ.
Nay kính cẩn tuân theo Ngọc Phả, chọn ngày tốt thợ khéo đế
vào bia đá, nêu rõ công lao của Ngài lưu truyền mãi về sau.
Phụ chép :
Đình Ngọc Động phối
thờ trưng triều Sơn Tinh Công Chúa tôn thần, bà vốn là danh tướng có công phù
giúp Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Địch và Trấn triều diện suý phu nhân Thuỷ Tinh
công chúa là vợ quan Nội hầu Phạm Ngũ Lão, Người đã lập nhiều kỳ tích trong
kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ở thời Trần, hai bà đều có công bảo quốc hộ
dân, cứu khốn phò nguy, được nhân dân trong vùng tôn thờ, hương hoả bất tuyệt.